Tháng 8/2026, Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Cư trú Nhật Bản đã công bố DỰ THẢO SỬA ĐỔI HƯỚNG DẪN VỀ GIẤY PHÉP CƯ TRÚ VĨNH VIỄN. MPKEN sẽ tóm tắt một số điểm thay đổi đáng chú ý của dự thảo này.
1. THU NHẬP: XÉT THEO HỘ GIA ĐÌNH, KHÔNG PHẢI CHỈ RIÊNG CỦA ĐƯƠNG ĐƠN
Tại thời điểm nộp đơn, tổng thu nhập của 同一生計世帯 phải đạt mức TRÊN thu nhập bình quân hộ gia đình người Nhật tương ứng số người, và duy trì liên tục.
Điểm cần chú ý là khái niệm 同一生計世帯 – hộ cùng chung sinh kế. Nghĩa là người sống chung và cùng chi tiêu sinh hoạt sẽ được xét theo hộ, chứ không đơn giản là ai đứng tên nộp đơn thì chỉ nhìn lương người đó.
Người độc thân: thu nhập của bản thân chính là thu nhập hộ.
Vợ/chồng cùng làm và cùng chung sinh kế: về nguyên tắc có thể cộng thu nhập.
Con đã trưởng thành, không còn phụ thuộc cha mẹ: sẽ không được kéo thu nhập của cha mẹ vào để “nâng chuẩn” cho hồ sơ của mình.
Người phụ thuộc đang ở nước ngoài: dù không sống chung tại Nhật vẫn được cộng vào số nhân khẩu mà đương đơn phải nuôi.
Hộ từ 5 người trở lên: dự thảo nói sẽ cộng thêm phần chi phí sinh hoạt tăng thêm, chứ không chỉ dùng mức bình quân cơ bản.
Một điểm rất quan trọng với gia đình có visa phụ thuộc: nếu người trong hộ đang mang visa 家族滞在 – gia đình, thu nhập từ hoạt động ngoài tư cách lưu trú như baito sẽ không được cộng vào thu nhập hộ để tính điều kiện vĩnh trú. Lý do phía Cục đưa ra là visa này chỉ cho phép kiếm tiền ở phạm vi ngoại lệ, có giới hạn.
Vậy mức thu nhập là bao nhiêu?
Dự thảo chưa công bố số yên cụ thể. Đây là chỗ nhiều bài báo dễ làm người đọc hiểu là đã có mức chuẩn mới, nhưng thực tế văn bản chỉ nói sẽ so với mức thu nhập trung bình của hộ người Nhật theo quy mô hộ.
2. TIỀN HƯU: ĐIỂM SIẾT MỚI ĐÁNG LO NHẤT VỚI NGƯỜI ĐÓNG NENKIN NGẮN HOẶC THU NHẬP THẤP
Thêm điều kiện về mức lương hưu tiêu chuẩn「受給年金水準」 — dựa trên 30 năm đóng nenkin 厚生年金.
Đây là phần mới và cụ thể hơn rất nhiều so với cách xét vĩnh trú mà mọi người quen thuộc trước giờ. Cục sẽ xem khoản lương hưu dự kiến có thể nhận trong tương lai của người nộp đơn. Họ tính dựa trên:
Tuổi hiện tại;
Toàn bộ quá trình tham gia bảo hiểm hưu trí;
Quá khứ làm tự doanh hay nhân viên công ty;
Số năm đóng nenkin;
Mức thu nhập bình quân trong quá trình đóng;
Thu nhập hiện tại để dự đoán khả năng tích lũy hưu trí sau này.
Mốc đối chiếu là: nếu một người làm việc 30 năm, có thu nhập đạt mức chuẩn nêu trên và tham gia 厚生年金 – hưu trí phúc lợi trong thời gian đó, thì sau này sẽ nhận được mức hưu dự kiến bao nhiêu. Người xin vĩnh trú sẽ được xem là đáp ứng điều kiện nếu khoản hưu dự kiến của mình đạt mức tương đương.
–> Không chỉ xem tình hình kinh tế hiện tại của bạn, mà còn xét cả “đến tuổi già bạn có đủ nguồn lực kinh tế để sống không?”.
Nếu số tiền lương hưu ước tính nhận được trong tương lai 受給見込額 chưa đạt lương hưu tiêu chuẩn 受給年金水準, người nộp đơn vẫn có thể được đánh giá đạt yêu cầu nếu đáp ứng các điều kiện bù đắp bên dưới. Dự thảo gọi đây là 補填資産 – tài sản bù đắp.
Dự thảo hiện mới nêu nguyên tắc: Người càng trẻ thì mức tài sản bù cần có sẽ thấp hơn, vì vẫn còn nhiều năm để tiếp tục làm việc và tích lũy.
Người càng gần tuổi nhận hưu thì mức tài sản bù cần có sẽ cao hơn, vì thời gian tạo thêm thu nhập và tích lũy ít hơn.
Tài sản này phải là loại tài sản tài chính có thể dùng để bù chi phí sinh hoạt trong giai đoạn thiếu hụt hưu trí.
Văn bản chưa công bố bảng số tiền theo độ tuổi; cũng chưa nói cụ thể phải giải trình nguồn tiền đến mức nào, có chấp nhận tiền chuyển từ Việt Nam sang hay không, thời gian tiền phải nằm trong tài khoản bao lâu, hay có tính chứng khoán/quỹ đầu tư/bảo hiểm tích lũy không.
Các điểm này sẽ phải chờ hướng dẫn nghiệp vụ hoặc danh mục giấy tờ sau.
3. NĂNG LỰC TIẾNG NHẬT: DỰ THẢO GHI CỤ THỂ MỐC B1
Lần này dự thảo đã ghi rõ hơn: người xin vĩnh trú được xét có năng lực tiếng Nhật từ B1 trở lên theo Khung tham chiếu giáo dục tiếng Nhật.
Bảng quy chiếu tham khảo do JLPT công bố tháng 5/2024 · bắt đầu in trên giấy chứng nhận từ kỳ thi tháng 12/2025.
Các nhóm có thể không bị xét B1 trực tiếp, gồm:
Nhân lực trình độ cao (visa nhân lực chất lượng cao hoặc có điểm số tương đương khi xét theo thang điểm này) và gia đình thuộc nhóm ưu đãi tương ứng;
Người đã học tổng cộng từ 6 năm trở lên ở bậc tiểu học hoặc trung học tại Nhật;
Con của người vĩnh trú, nếu sinh tại Nhật và cha/mẹ nuôi dưỡng có năng lực tiếng Nhật từ B1 trở lên.
Ở đây cũng cần lưu ý câu chữ là “không coi đây là yếu tố bắt buộc phải xem xét”, chứ không có nghĩa các nhóm này được miễn toàn bộ điều kiện vĩnh trú khác.
Như vậy khả năng người có visa gia đình phụ thuộc visa kỹ sư thông thường nếu muốn xin vĩnh trú vẫn cần đáp ứng tiếng Nhật mốc B1.
Xem thêm: Tìm hiểu về thủ tục xin vĩnh trú
4. CƯ TRÚ DÀI HẠN — GIỮ NGUYÊN 10 NĂM. VẮNG VẮNG MẶT LÂU CÓ THỂ BỊ ĐÁNH GIÁ BẤT LỢI
Với nhóm xét theo nguyên tắc chung, dự thảo vẫn giữ khung:
Ở Nhật liên tục 10 năm trở lên;
Trong đó ít nhất 5 năm liên tục mang visa lao động hoặc visa cư trú;
Khi nộp đơn, visa hiện có phải là thời hạn dài nhất của loại visa đó.
Ngoài ra, dự thảo nêu rõ một điểm đáng chú ý: trong 10 năm trước ngày nộp, nếu không có lý do hợp lý mà: Một lần xuất cảnh và ở ngoài Nhật từ 6 tháng trở lên; hoặc Tổng thời gian ở ngoài Nhật từ 2 năm 6 tháng trở lên thì về nguyên tắc sẽ bị đánh giá bất lợi.
Dự thảo mới quy định vợ/chồng người Nhật muốn xin vĩnh trú cần:
Có đời sống hôn nhân thực chất kéo dài từ 5 năm trở lên;
Và liên tục cư trú tại Nhật từ 3 năm trở lên.
実体を伴った婚姻生活 – đời sống hôn nhân có thực chất, nghĩa là không chỉ nhìn giấy đăng ký kết hôn đủ số năm, mà vẫn có thể xem tính thực tế của cuộc sống hôn nhân.
Với con ruột của người Nhật/người vĩnh trú/người đặc biệt vĩnh trú, điều kiện trong dự thảo là cư trú liên tục tại Nhật từ 3 năm trở lên.
Như vậy, nếu so với mốc thực tế hiện mọi người thường áp dụng là kết hôn trên 3 năm và ở Nhật trên 1 năm, thì đây là thay đổi siết khá rõ ở thời gian hôn nhân lẫn thời gian ở Nhật.
5. MỘT SỐ LƯU Ý KHÁC
HIỂU BIẾT QUY TẮC SỐNG Ở NHẬT
Không chỉ tiếng Nhật, dự thảo còn nêu việc kiểm tra mức độ hiểu biết về hệ thống và quy tắc tại Nhật.
Nội dung được định hướng xoay quanh 生活・就労ガイドブック – Sổ tay hướng dẫn sinh hoạt và làm việc, bằng phương pháp do Cục trưởng Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú chỉ định.
Hiện chưa rõ đây sẽ là bài thi, bảng câu hỏi, phỏng vấn hay hình thức xác nhận khác. Nhưng về mặt ý nghĩa thì đây có thể là một thay đổi lớn: người xin vĩnh trú sẽ không chỉ chứng minh thu nhập và hồ sơ thuế, mà còn cần cho thấy mình hiểu những quy tắc cơ bản khi sống ở Nhật như thủ tục cư trú, lao động, thuế, bảo hiểm, y tế, nuôi dạy con, rác thải, giao thông và các nghĩa vụ xã hội.
THUẾ, BẢO HIỂM, NENKIN VẪN LÀ PHẦN CỰC KỲ QUAN TRỌNG
Dự thảo tiếp tục nhấn mạnh việc tuân thủ nghĩa vụ cư trú và các khoản công:
Khai báo địa chỉ, thay đổi địa chỉ đúng quy định;
Mang và xuất trình thẻ cư trú khi có nghĩa vụ;
Không làm việc ngoài phạm vi visa hoặc vi phạm tư cách lưu trú;
Nộp các loại thuế;
Đóng bảo hiểm y tế công;
Đóng bảo hiểm hưu trí công.
Nếu không thực hiện phù hợp, hồ sơ sẽ bị đánh giá bất lợi. Với tiền án, gồm cả án tù hoặc phạt tiền, dự thảo cũng ghi nguyên tắc là đánh giá tiêu cực.
CON TRONG ĐỘ TUỔI BẮT BUỘC PHẢI ĐI HỌC
Nếu đương đơn đang nuôi con trong độ tuổi giáo dục bắt buộc, dự thảo yêu cầu con đang theo học tiểu học hoặc trung học cơ sở. Nếu chính người nộp đơn còn ở độ tuổi giáo dục bắt buộc thì bản thân người đó cũng phải đi học.
Đây là điểm có thể tác động tới một số gia đình cho con học ở ngoài hệ thống trường Nhật, tạm nghỉ học dài hạn hoặc có vấn đề về nhập học. Dự thảo chỉ nêu nguyên tắc, chưa trình bày rõ cách xử lý từng trường hợp đặc biệt như bệnh tật, nhu cầu giáo dục đặc biệt, du học ở nước ngoài hoặc học quốc tế.
THỜI ĐIỂM ÁP DỤNG:
Nếu dự thảo được giữ nguyên, toàn bộ hướng dẫn sửa đổi dự kiến áp dụng cho hồ sơ nộp từ ngày 1/4/2027.
Nhưng có điều khoản chuyển tiếp cần chú ý: riêng tiêu chí thu nhập hộ gia đình và tiêu chí không là gánh nặng công cộng sẽ áp dụng cả với hồ sơ nộp từ 1/10/2026 trở đi và vẫn đang chờ xét vào ngày 1/4/2027. (tuy vậy có thể hồi tố về cả các hồ sơ nộp từ 4/2026).